Bài viết giới thiệu

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số: Từ nhận thức lý luận đến thực tiễn tại Trung tâm Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số Bắc Ninh

08/06/2026 14:06

Bài viết phân tích mối quan hệ giữa nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Trên cơ sở làm rõ vai trò của công nghệ số trong nâng cao hiệu quả quản trị, tăng cường tính minh bạch và củng cố niềm tin xã hội, bài viết chỉ ra những cơ hội và thách thức đặt ra đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng hiện nay. Từ thực tiễn hoạt động của Trung tâm Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số Bắc Ninh, bài viết khẳng định việc vận hành hiệu quả các nền tảng số, bảo đảm an toàn thông tin và hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ số là những đóng góp thiết thực cho nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời đại số. Đồng thời, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nâng cao hiệu quả quản trị, chất lượng phục vụ Nhân dân và thúc đẩy phát triển bền vững của quê hương, đất nước trong kỷ nguyên mới.

MỞ ĐẦU

Trải qua các giai đoạn cách mạng, từ đấu tranh giành độc lập dân tộc đến công cuộc đổi mới và hội nhập hôm nay, Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, định hướng cho mọi chủ trương và hành động của Đảng. Thực tiễn phát triển của đất nước đã chứng minh giá trị bền vững của nền tảng ấy. Đó không chỉ là hệ thống lý luận khoa học, cách mạng, mà còn là nền tảng chính trị, tinh thần bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

Lịch sử đã chứng minh, mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với việc giữ vững và vận dụng sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc đến công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay đều khẳng định một chân lý: khi nền tảng tư tưởng của Đảng được giữ vững, được vận dụng đúng đắn và sáng tạo, cách mạng Việt Nam sẽ phát triển đúng hướng và giành thắng lợi.

Bước vào kỷ nguyên số, thế giới chuyển động mạnh mẽ dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, internet vạn vật và chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị, sản xuất và đời sống xã hội. Cùng với cơ hội phát triển to lớn, môi trường số cũng trở thành nơi các thế lực thù địch lợi dụng để tung tin giả, xuyên tạc lịch sử, bóp méo chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong bối cảnh đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là yêu cầu thường xuyên mà là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Tiếp đó, ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.


Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Trong môi trường số hiện nay, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ dừng ở tuyên truyền hay phản bác thông tin sai trái. Quan trọng hơn, đó còn là việc nâng cao chất lượng quản trị, cải cách hành chính, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày một tốt hơn. Khi người dân cảm nhận được hiệu quả từ những chính sách đúng đắn, niềm tin xã hội sẽ được củng cố một cách tự nhiên và bền vững.

Đối với tỉnh Bắc Ninh, địa phương đang vươn lên mạnh mẽ với khát vọng trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao, việc gắn khoa học công nghệ, chuyển đổi số với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tại Trung tâm Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số Bắc Ninh, nhận thức lý luận ấy được cụ thể hóa bằng những công việc hằng ngày trong xây dựng hạ tầng số, dữ liệu số, nền tảng số phục vụ quản lý, điều hành của chính quyền và người dân.

Xuất phát từ nhận thức đó, bài viết lựa chọn tiêu đề: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số: Từ nhận thức lý luận đến thực tiễn tại Trung tâm Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số Bắc Ninh” nhằm góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

I. KIÊN ĐỊNH NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG BỐI CẢNH MỚI

Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ. Một chính đảng cách mạng nếu xa rời nền tảng tư tưởng sẽ mất phương hướng; dao động về lý tưởng sẽ suy giảm sức chiến đấu; và nếu suy yếu bản lĩnh chính trị, tất yếu sẽ đánh mất vai trò lãnh đạo xã hội."

Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là thành quả trí tuệ của nhân loại và dân tộc, là cơ sở khoa học để Đảng ta hoạch định đường lối cách mạng phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Sự lựa chọn ấy không phải ngẫu nhiên, mà được kiểm nghiệm bằng lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Yêu cầu kiên định nguyên tắc tư tưởng hoàn toàn tách biệt với tư duy bảo thủ, giáo điều. Thực tiễn 40 năm đổi mới của đất nước chỉ ra rằng, tính kiên định phải luôn song hành với năng lực vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển lý luận để giải quyết trúng những vấn đề thực tiễn đang đặt ra.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: "Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng".

Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống và sự bùng nổ công nghệ số đang tạo ra những biến động sâu rộng. Các quan điểm, luận điệu sai trái ngày nay thường không xuất hiện dưới hình thức thô sơ, cực đoan như trước, mà ngụy trang dưới những khẩu hiệu mỹ miều như “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do ngôn luận”, “đa nguyên đa đảng”, “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”…nhằm gieo rắc hoài nghi, làm nhạt phai lý tưởng.

Vì vậy, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới trước hết là kiên định niềm tin vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Thành tựu qua 40 năm đổi mới là minh chứng thuyết phục nhất. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, hội nhập quốc tế sâu rộng, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, vị thế đất nước không ngừng được củng cố.

Kiên định còn được thể hiện qua năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng; qua quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; qua tinh thần gần dân, trọng dân, vì dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người làm khoa học công nghệ và chuyển đổi số, kiên định không chỉ là nhận thức đúng, nói đúng, mà còn là làm đúng; biến nghị quyết thành hành động, biến chủ trương thành sản phẩm phục vụ xã hội, biến lý tưởng thành hiệu quả công việc cụ thể.

II. THÁCH THỨC TỪ KHÔNG GIAN MẠNG

Nếu như trước đây mặt trận tư tưởng chủ yếu diễn ra trên báo chí, xuất bản phẩm và các kênh truyền thống, thì ngày nay môi trường mạng đã trở thành chiến trường không tiếng súng”, không gian cạnh tranh thông tin quyết liệt và biến động từng giờ.

Cùng với những lợi ích to lớn mà internet và mạng xã hội mang lại, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng đứng trước nhiều thách thức chưa từng có. Tốc độ lan truyền thông tin quá nhanh khiến việc kiểm chứng đôi khi không theo kịp những tin đồn hoặc nội dung sai lệch xuất hiện trên mạng.

Không gian mạng mở ra cơ hội lớn nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với công tác tư tưởng.

Những thách thức nổi bật trên không gian mạng có thể nhận diện rõ nét: Đầu tiên là sự xuất hiện với mật độ ngày càng dày đặc của tin giả, thông tin xấu độc chưa được kiểm chứng. Chỉ với vài thao tác chia sẻ, những nội dung sai lệch có thể lan truyền rất nhanh, gây tâm lý hoang mang trong dư luận và ảnh hưởng đến nhận thức của người dân.

Thách thức thứ hai là công nghệ Deepfake và AI tạo nội dung giả mạo. Hình ảnh, giọng nói, video có thể bị làm giả tinh vi, tạo ra những “bằng chứng giả” nhưng gây tác động thật. Đây là nguy cơ lớn đối với an ninh thông tin và ổn định xã hội.

Thách thức thứ ba là thuật toán nền tảng số. Nhiều nền tảng ưu tiên nội dung gây tranh cãi, giật gân, kích thích cảm xúc để tăng tương tác, khiến thông tin lệch chuẩn lan nhanh hơn thông tin chính thống.

Thách thức thứ tư là chiến lược “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề nhạy cảm như chống tham nhũng, sắp xếp bộ máy, sự cố xã hội, khiếu kiện, chính sách đất đai…để bóp méo bản chất vấn đề, xuyên tạc, kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thách thức thứ năm, hạn chế về kỹ năng số và tâm lý tiếp nhận thông tin thiếu chọn lọc của một bộ phận người dùng. Thói quen đọc lướt, chia sẻ nhanh, bình luận theo cảm xúc khiến nhiều người vô tình tiếp tay cho thông tin sai lệch.

Bên cạnh đó, ở một số nơi, truyền thông chính thống có lúc còn chậm, thiếu hấp dẫn, chưa theo kịp tốc độ của truyền thông số. Khi thông tin chính thống đến chậm, khoảng trống thông tin sẽ xuất hiện và nhanh chóng bị lấp đầy bởi các nguồn tin không chính xác.

Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay không đơn thuần là gỡ bỏ nội dung xấu độc, mà là cuộc cạnh tranh toàn diện về tốc độ, độ tin cậy, chất lượng và sức hấp dẫn của thông tin chính thống.

III. VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Ngay từ buổi đầu dựng nước trong thời đại cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: "Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng". Đó không chỉ là một định hướng kỹ thuật mà còn là sự khẳng định về vai trò của tri thức, công nghệ trong phát triển đất nước và nâng cao đời sống nhân dân. Tư tưởng của Người về việc dùng khoa học để tổ chức và quản lý xã hội chính là nền móng cho tư duy quản trị số hiện đại ngày nay.

 

Bắc Ninh xác định khoa học công nghệ và chuyển đổi số là động lực quan trọng cho phát triển trong giai đoạn mới.

Quan điểm đó đã được Đảng ta kế thừa và phát triển nhất quán trong các kỳ Đại hội, nổi bật là Nghị quyết số 20-NQ/TW/2012 về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị quyết số 52-NQ/TW/2019 về chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đặc biệt, gần đây nhất là Nghị quyết số 57-NQ/TW/2024 của Bộ chính trị đã mở ra tầm nhìn chiến lược mới: Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ phục vụ tăng trưởng kinh tế mà còn nâng cao năng lực quản trị quốc gia, năng lực cạnh tranh và sức mạnh tổng hợp của đất nước. Điều đó cho thấy khoa học công nghệ ngày càng trở thành công cụ quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong bối cảnh hiện nay, khoa học công nghệ và chuyển đổi số giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nếu trước đây công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng chủ yếu nhấn mạnh lĩnh vực lý luận, tuyên truyền, báo chí, giáo dục chính trị thì nay cần gắn chặt với nền tảng số, dữ liệu số và các công cụ công nghệ hiện đại.

Vai trò của khoa học công nghệ và chuyển đổi số được thể hiện khá rõ trên một số phương diện sau:

Trước hết, khoa học công nghệ và chuyển đổi số giúp nâng cao tính công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước. Khi người dân có thể nộp hồ sơ trực tuyến, tra cứu thủ tục hành chính, theo dõi tiến độ giải quyết hồ sơ, tiếp cận thông tin nhanh chóng, niềm tin vào chính quyền được tăng cường, củng cố.

Thứ hai, công nghệ giúp thu hẹp khoảng trống thông tin. Những nền tảng số của cơ quan nhà nước nếu hoạt động hiệu quả sẽ truyền tải thông tin chính thống chính xác, kịp thời, hạn chế đất sống của tin giả.

Thứ ba, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), phân tích truyền thông số có thể phát hiện sớm xu hướng dư luận, nhận diện nội dung độc hại, cảnh báo nguy cơ lan truyền, khủng hoảng thông tin từ sớm.

Thứ tư, chuyển đổi số giúp nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân. Hiệu quả thực tế từ việc người dân giao dịch hành chính thuận tiện, minh bạch chính là câu trả lời thuyết phục nhất, tạo dựng sự đồng thuận trong quần chúng và loại bỏ hoàn toàn các dư địa mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để kích động, xuyên tạc.

Thứ năm, khoa học công nghệ và chuyển đổi số giúp nâng cao năng lực tự cường quốc gia. Làm chủ công nghệ cốt lõi, bán dẫn, dữ liệu, an ninh mạng cũng chính là củng cố độc lập tự chủ trong thời đại số.

Lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ trao đổi, định hướng công chức, viên chức nâng cao năng lực số, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giai đoạn mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại nhiều Hội nghị: “Khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, đổi mới sáng tạo là động lực phát triển, chuyển đổi số là xu thế tất yếu”; “Muốn phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam phải đi bằng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”. Những quan điểm đó cho thấy quyết tâm của Đảng trong việc đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Và đây cũng chính là định hướng quan trọng để các địa phương, trong đó có Bắc Ninh hiện thực hóa khát vọng vươn mình phát triển.

Nhiều dịch vụ công được triển khai trên môi trường số, giúp người dân và doanh nghiệp thực hiện thủ tục thuận tiện.

Thời gian qua, Bắc Ninh đặc biệt quan tâm đầu tư cho khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ I sau tái lập (2025) nhất quán xác định: Lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới.

Năm 2025, tỉnh bố trí gần 900 tỷ đồng cho lĩnh vực này, tương đương hơn 3% tổng chi thường xuyên; kinh tế số chiếm hơn 40% GRDP, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước. Hạ tầng số được đầu tư đồng bộ với 100% cấp xã kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng; 100% dân số được phủ sóng di động, hơn 92% dân số phủ sóng 5G; 100% văn bản (trừ mật) được xử lý điện tử, ký số; các hệ thống dùng chung vận hành thông suốt từ tỉnh đến cơ sở.

Chuyển đổi số trong cải cách hành chính đạt kết quả nổi bật: hồ sơ nộp trực tuyến đạt 96,18%; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đạt 97,49% (xếp thứ 5 toàn quốc); chỉ số phục vụ người dân, doanh nghiệp xếp thứ 4/34 tỉnh, thành phố; 100% cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong khu vực công được trang bị kiến thức, kỹ năng số cơ bản; 100% học sinh, sinh viên được tiếp cận và bồi dưỡng kỹ năng số phục vụ học tập; tỷ lệ người dân tham gia sử dụng các nền tảng số, dịch vụ số thiết yếu ngày càng tăng.

Nhiều mô hình sáng tạo được triển khai hiệu quả như: “Đảng viên tiên phong học tập kỹ năng số”, “Chính quyền số toàn trình không giấy tờ”, phong trào “Bình dân học vụ số”, “Chợ 4.0 - thanh toán không tiền mặt”...Những kết quả đó cho thấy quyết tâm chính trị của tỉnh trong việc lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực phát triển, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

IV. GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC TRIỂN KHAI

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh không gian mạng phát triển mạnh mẽ, phương thức truyền thông thay đổi sâu sắc, tốc độ lan truyền thông tin vượt xa cách thức quản lý truyền thống. Vì vậy, nếu chỉ sử dụng tư duy cũ, công cụ cũ, phương pháp cũ thì khó đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Đòi hỏi đặt ra là phải đổi mới toàn diện phương thức triển khai theo hướng chủ động, hiện đại, linh hoạt, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực, lấy xây để chống, lấy hiệu quả thực tiễn để củng cố niềm tin xã hội.

Trên tinh thần đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp trọng tâm sau:

1. Xây dựng hệ sinh thái thông tin số tích cực, chính thống

Trong môi trường mạng, khoảng trống thông tin rất dễ bị lấp đầy bởi tin giả, tin sai sự thật hoặc các luận điệu xuyên tạc. Vì vậy, giải pháp căn cơ hàng đầu là phải chủ động xây dựng hệ sinh thái thông tin số tích cực, trong đó thông tin chính thống giữ vai trò dẫn dắt.

Hệ sinh thái đó bao gồm báo chí cách mạng, cổng thông tin điện tử, nền tảng số của cơ quan nhà nước, trang thông tin của tổ chức Đảng, các kênh truyền thông trên mạng xã hội, hệ thống phát thanh-truyền hình, cùng đội ngũ cán bộ, đảng viên, cộng tác viên dư luận xã hội tham gia lan tỏa thông tin tích cực. Các chủ thể này cần được kết nối đồng bộ, chia sẻ dữ liệu, phối hợp nội dung, tạo thành mạng lưới truyền thông thống nhất, kịp thời và hiệu quả.

Thông tin chính thống phải bảo đảm bốn yêu cầu: nhanh, chính xác, gần gũi và hấp dẫn. Nhanh để không bị động trước diễn biến dư luận; chính xác để tạo niềm tin; gần dân để dễ tiếp nhận; hấp dẫn để có sức lan tỏa tự nhiên. Nội dung tuyên truyền cần đổi mới mạnh mẽ về cách thể hiện: sử dụng video ngắn, infographic, podcast, đồ họa dữ liệu, tọa đàm trực tuyến, tương tác hỏi - đáp…phù hợp với thói quen tiếp cận thông tin của xã hội hiện đại.

Bên cạnh đó, cần chú trọng lan tỏa những mô hình hay, nhân tố mới, tấm gương người tốt việc tốt, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, cải cách hành chính, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo. Khi thông tin tích cực được lan tỏa rộng rãi, xã hội sẽ hình thành khả năng tự nhận diện và sàng lọc các thông tin xấu độc.

Đối với Bắc Ninh, địa phương có tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa cao, dân số trẻ, lực lượng lao động lớn, nhu cầu tiếp cận thông tin rất đa dạng. Vì vậy, xây dựng hệ sinh thái thông tin số tích cực không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là yêu cầu phát triển, góp phần giữ vững ổn định xã hội và tạo đồng thuận trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

2. Ứng dụng công nghệ trong giám sát, phân tích và xử lý thông tin

Mỗi ngày trên không gian mạng xuất hiện lượng thông tin rất lớn, thay đổi liên tục theo từng giờ, từng phút. Nếu chỉ theo dõi thủ công sẽ chậm, thiếu toàn diện và khó phát hiện sớm rủi ro. Vì vậy, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong giám sát thông tin, dự báo dư luận và hỗ trợ ra quyết định.

Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), xử lý ngôn ngữ tự nhiên có thể hỗ trợ phát hiện xu hướng truyền thông bất thường, nhận diện nội dung giả mạo, xác định nguồn lan truyền tin giả, phân tích tâm lý dư luận và cảnh báo sớm nguy cơ khủng hoảng truyền thông.

Ứng dụng công nghệ AI hỗ trợ theo dõi, phân tích thông tin và nâng cao hiệu quả quản lý trên môi trường số.

Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi được vận hành bởi đội ngũ có năng lực và trong khuôn khổ thể chế phù hợp. Vì vậy, cần xây dựng quy trình phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn, lực lượng chức năng, cơ quan báo chí, đơn vị công nghệ để xử lý thông tin nhanh, đúng pháp luật, đúng thẩm quyền, đúng thời điểm. Không để thông tin sai lệch lan rộng rồi mới xử lý; cũng không cực đoan, máy móc trong quản lý.

Đối với Trung tâm Khoa học Công nghệ và Chuyển đổi số Bắc Ninh, đây là lĩnh vực có thể phát huy vai trò nòng cốt thông qua tham mưu giải pháp kỹ thuật, hỗ trợ hạ tầng số, bảo đảm an toàn thông tin, xây dựng nền tảng dữ liệu phục vụ công tác quản lý và điều hành của tỉnh.

3. Nâng cao năng lực số cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân

Một xã hội số không thể hình thành nếu con người thiếu kỹ năng số. Tương tự, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng sẽ gặp nhiều khó khăn nếu cán bộ, đảng viên và người dân thiếu năng lực tiếp cận, kiểm chứng và sử dụng thông tin.

Do đó, cần triển khai mạnh mẽ phong trào học tập kỹ năng số trong toàn xã hội; phổ cập kiến thức an toàn thông tin, kỹ năng nhận diện tin giả, kỹ năng sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, định danh điện tử và văn hóa ứng xử trên mạng.

Các lớp tập huấn kỹ năng số góp phần nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Đối với cán bộ, đảng viên, yêu cầu đặt ra cao hơn. Mỗi cán bộ phải là người sử dụng công nghệ thành thạo, hiểu môi trường số, nắm bắt xu hướng truyền thông mới, biết cách tương tác đúng mực trên mạng xã hội, có khả năng phân biệt đúng - sai, thật - giả và có trách nhiệm nêu gương trong phát ngôn. Cán bộ càng giữ vị trí lãnh đạo, quản lý càng phải chuẩn mực trong hành vi số.

Cần coi năng lực số là một tiêu chí quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá cán bộ thời kỳ mới. Bởi trong nhiều trường hợp, sự chậm trễ trong xử lý công việc, hạn chế trong phục vụ Nhân dân, hoặc lúng túng trước truyền thông mạng đều bắt nguồn từ hạn chế về năng lực số.

Đối với người dân, khi được trang bị đầy đủ kỹ năng số, mỗi người sẽ trở thành một “người dùng thông minh”, biết tiếp cận thông tin có chọn lọc, không chia sẻ vô thức, không tiếp tay cho tin giả. Đó chính là nền tảng xã hội bền vững để bảo vệ trận địa tư tưởng trong thời đại số.

4. Phát huy vai trò của tổ chức Đảng trong môi trường số

Tổ chức Đảng là hạt nhân lãnh đạo ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương. Bước vào môi trường số, vai trò đó không giảm đi mà càng phải được tăng cường bằng phương thức mới, cách làm mới.

Chi bộ Trung tâm đổi mới nội dung sinh hoạt gắn với nâng cao nhận thức và kỹ năng số cho đảng viên.

Trước hết, tổ chức Đảng cần đi đầu trong chuyển đổi số nội bộ: ứng dụng quản lý văn bản điện tử, điều hành trên nền tảng số, họp trực tuyến, lưu trữ số, khai thác dữ liệu phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo. Khi tổ chức Đảng chủ động đổi mới phương thức làm việc, hiệu quả lãnh đạo sẽ được nâng cao, tính nêu gương sẽ rõ nét hơn.

Thứ hai, tổ chức Đảng phải làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong môi trường số. Sinh hoạt chi bộ, học tập nghị quyết, phổ biến chủ trương cần được đổi mới hình thức, kết hợp trực tiếp và trực tuyến, tăng tính trao đổi, thảo luận, liên hệ thực tiễn. Nội dung phải ngắn gọn, thiết thực, dễ tiếp nhận nhưng vẫn bảo đảm chiều sâu lý luận.

Thứ ba, cần quan tâm quản lý, định hướng đảng viên trong sử dụng mạng xã hội. Đảng viên không chỉ là người chấp hành kỷ luật phát ngôn mà còn là lực lượng lan tỏa giá trị tích cực, phản bác thông tin sai trái bằng thái độ chuẩn mực, có lý lẽ, có văn hóa. Mỗi đảng viên trên không gian mạng cần ý thức rằng mình đang đại diện hình ảnh của tổ chức Đảng.

Thứ tư, tổ chức Đảng phải phát hiện sớm những biểu hiện lệch chuẩn về tư tưởng, đạo đức, lối sống; kịp thời nhắc nhở, giáo dục, chấn chỉnh từ sớm, từ xa. Không để các biểu hiện dao động, suy giảm niềm tin, phát ngôn tùy tiện trên không gian mạng kéo dài thành vấn đề lớn.

Tại Trung tâm Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số Bắc Ninh, việc phát huy vai trò của chi bộ, cấp ủy trong môi trường số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi đây là đơn vị tập hợp đội ngũ cán bộ kỹ thuật, chuyên gia công nghệ, trực tiếp tham gia xây dựng hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu số của tỉnh. Tổ chức Đảng mạnh sẽ là nhân tố bảo đảm đơn vị phát triển đúng định hướng, vừa giỏi chuyên môn, vừa vững bản lĩnh chính trị.

5. Gắn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với hiệu quả quản trị và phục vụ Nhân dân

Điểm mới quan trọng trong giai đoạn hiện nay là phải nhìn nhận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, mà còn là nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, quản trị địa phương, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.

Khi người dân được thụ hưởng dịch vụ công thuận lợi, minh bạch; thủ tục hành chính được rút ngắn; phản ánh, kiến nghị được giải quyết nghiêm túc; môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện; đời sống vật chất và tinh thần ngày càng nâng cao thì sự đồng thuận xã hội trở thành “lá chắn mềm” chống lại các luận điệu xuyên tạc, chống phá.

Tóm lại, đổi mới phương thức triển khai bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời đại số là yêu cầu tất yếu khách quan. Đây là nhiệm vụ đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa công tác tuyên truyền, ứng dụng công nghệ, nâng cao hiệu quả quản lý và phát huy vai trò của mỗi cán bộ, đảng viên. Làm tốt nội dung này sẽ góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

V. LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI TRUNG TÂM KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ BẮC NINH

Lý luận chỉ thực sự có sức sống khi được kiểm nghiệm bằng thực tiễn. Với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, điều đó càng đúng hơn bao giờ hết. Nếu chỉ dừng ở khâu tuyên truyền mà không chuyển hóa thành hành động, hiệu quả phục vụ, bằng chất lượng quản trị nhà nước thì sức thuyết phục sẽ hạn chế.

Thực tiễn hoạt động của Trung tâm Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số Bắc Ninh cho thấy: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay không chỉ nằm ở mặt trận lý luận mà còn được thể hiện sinh động trong từng nhiệm vụ chuyên môn, từng nền tảng số, từng hệ thống dữ liệu và từng hành động tận tụy của đội ngũ cán bộ, viên chức, người lao động.

Đội ngũ cán bộ Trung tâm Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số Bắc Ninh triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Trung tâm Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số là đơn vị trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Ninh, đóng vai trò nòng cốt trong việc tham mưu và tổ chức thực hiện các hoạt động sự nghiệp phục vụ quản lý nhà nước về chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, cũng như xây dựng, phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số và chính quyền thông minh tại địa phương. Trong những năm gần đây, cùng với quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ của tỉnh, vai trò của Trung tâm ngày càng rõ nét hơn thông qua việc cung cấp thông tin, thống kê khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hỗ trợ các cơ quan, đơn vị, người dân và doanh nghiệp tiếp cận, làm chủ các nền tảng số.

Do đặc thù chuyên môn kỹ thuật, nhiệm vụ của đội ngũ viên chức tại Trung tâm thường gắn liền với sự vận hành, quản trị của phòng máy, hệ thống máy chủ và các hạ tầng dữ liệu. Đặc biệt, trong vai trò đơn vị chịu trách nhiệm phát triển, vận hành và bảo đảm an toàn hạ tầng số, hạ tầng công nghệ thông tin cũng như hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung của tỉnh, áp lực đè nặng lên vai mỗi cán bộ kỹ thuật là rất lớn. Trong các khung giờ cao điểm, áp lực duy trì tính ổn định của hệ thống quản lý văn bản điều hành tập trung và mạng truyền số liệu chuyên dùng toàn tỉnh đòi hỏi sự ứng trực liên tục của các kỹ thuật viên nhằm phát hiện, xử lý các xung đột hoặc nguy cơ nghẽn mạng từ sớm. Sự ổn định của hệ thống kỹ thuật này chính là điều kiện tiên quyết để giữ dòng chảy công việc của toàn bộ hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở không bị gián đoạn.

Viên chức Trung tâm theo dõi, vận hành hệ thống dữ liệu và hạ tầng số, bảo đảm hoạt động chỉ đạo, điều hành của tỉnh diễn ra thông suốt.

Công việc điều hành, quản trị các nền tảng và hệ thống thông tin dùng chung này tuy không xuất hiện trên các bản tin hay báo cáo thành tích nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của nhiều cơ quan, đơn vị trong tỉnh. Khi hệ thống vận hành thông suốt, việc xử lý công việc của các cơ quan diễn ra thuận lợi hơn; khi dữ liệu được số hóa, kết nối và khai thác đồng bộ, người dân cũng giảm thời gian thực hiện các thủ tục hành chính. Trong thời đại số, niềm tin của người dân được hình thành từ những trải nghiệm thực tế. Một thủ tục được giải quyết thuận lợi hơn, một phản ánh được xử lý kịp thời hơn hay một dịch vụ công được cung cấp hiệu quả hơn đều góp phần tạo dựng hình ảnh chính quyền trách nhiệm và gần dân.

Bên cạnh nhiệm vụ kỹ thuật hạ tầng, Trung tâm còn chủ động tổ chức triển khai các hoạt động tư vấn đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, cung ứng dịch vụ, đào tạo và truyền thông về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, thúc đẩy lan tỏa nhận thức về chuyển đổi số trong cộng đồng. Thực tiễn, nhiều người dân, nhất là người cao tuổi, người lao động ở khu vực nông thôn, công nhân tại khu công nghiệp còn gặp khó khăn khi tiếp cận dịch vụ số. Việc hướng dẫn sử dụng ứng dụng số, thanh toán số, dịch vụ công trực tuyến, định danh điện tử…không đơn thuần là hỗ trợ kỹ thuật mà còn là thu hẹp khoảng cách số, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển. Trong các buổi tập huấn hoặc hỗ trợ trực tiếp, không ít người dân lớn tuổi còn lúng túng khi đăng nhập tài khoản, xác thực thông tin hay nộp hồ sơ trực tuyến. Những tình huống như vậy đòi hỏi cán bộ kỹ thuật phải kiên trì hướng dẫn từng bước để người dân có thể tự thực hiện và từng bước hình thành thói quen sử dụng dịch vụ số.

Hoạt động tập huấn, hướng dẫn kỹ năng số được duy trì thường xuyên nhằm lan tỏa nhận thức về chuyển đổi số trong cộng đồng.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Trung tâm vẫn đối mặt với nhiều thách thức: Tốc độ phát triển công nghệ quá nhanh đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải liên tục cập nhật tri thức mới, từ trí tuệ nhân tạo, an toàn thông tin đến quản trị dữ liệu lớn. Nếu chậm đổi mới tư duy, chậm nâng cao năng lực sẽ khó đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới; Nhu cầu chuyển đổi số của tỉnh ngày càng lớn trong khi nguồn nhân lực công nghệ chất lượng cao ở khu vực công còn hạn chế; Nguy cơ tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu, lộ lọt thông tin ngày càng phức tạp, đặt ra yêu cầu rất cao về an ninh mạng và kỷ luật công vụ số; Một bộ phận người dân vẫn còn tâm lý e ngại công nghệ, chưa thay đổi thói quen xử lý công việc theo phương thức truyền thống Chính những khó khăn đó càng cho thấy trách nhiệm lớn của Trung tâm trong thời gian tới.

Để hoàn thành xuất sắc vai trò phối hợp tham mưu và tổ chức thực hiện các hoạt động chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số, Trung tâm cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động; lấy hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước làm thước đo. Thời gian tới, Trung tâm cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ theo hướng “vừa hồng, vừa chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, làm chủ công nghệ mới. Đồng thời, cần tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, tự động hóa quy trình, phân tích dữ liệu để nâng cao chất lượng tham mưu, quản trị dữ liệu số và năng lực vận hành các hệ thống; cần đẩy mạnh truyền thông số để người dân thấy rõ lợi ích của chuyển đổi số, từ đó đồng hành cùng chính quyền trong tiến trình hiện đại hóa quản trị.

Qua thực tiễn công tác, chúng tôi nhận thức rằng: Làm công nghệ trong khu vực công không chỉ là công việc chuyên môn mà còn là thực hiện nhiệm vụ chính trị. Mỗi dữ liệu được xử lý chính xác, mỗi hệ thống vận hành ổn định, an toàn, mỗi yêu cầu của người dân được hỗ trợ tận tình đều góp phần xây dựng hình ảnh chính quyền chuyên nghiệp, trách nhiệm, gần dân.

Chính từ những công việc thầm lặng hằng ngày, mỗi cán bộ làm công tác công nghệ càng nhận thức rõ trách nhiệm của mình trên mặt trận số. Ý thức được điều đó, tập thể chi bộ và viên chức Trung tâm xác định: Việc hoàn thành tốt từng chỉ tiêu chuyên môn, bảo mật an toàn tuyệt đối dữ liệu số và tận tâm hướng dẫn kỹ năng số cho người dân ở cơ sở chính là phương thức bảo vệ Đảng cụ thể, thiết thực và có sức lan tỏa sâu rộng nhất.

Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay không chỉ là đấu tranh với thông tin sai trái trên không gian mạng mà còn là xây dựng những giá trị tích cực từ thực tiễn quản trị, từ chất lượng phục vụ và từ hiệu quả chuyển đổi số. Đó cũng chính là con đường thiết thực, bền vững và thuyết phục nhất mà Trung tâm Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số Bắc Ninh đang từng ngày góp sức thực hiện.

KẾT LUẬN

Phát huy truyền thống cách mạng, xây dựng Bắc Ninh giàu đẹp, văn minh, vững bước trong kỷ nguyên số.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời đại số không chỉ là đấu tranh với các thông tin sai trái trên không gian mạng mà còn là quá trình xây dựng niềm tin xã hội bằng những kết quả cụ thể trong quản lý, điều hành và phục vụ người dân.

Từ thực tiễn tại Trung tâm Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số Bắc Ninh cho thấy, mỗi hệ thống vận hành ổn định, mỗi dữ liệu được quản lý an toàn, mỗi dịch vụ số được triển khai hiệu quả đều góp phần nâng cao chất lượng phục vụ, tăng cường tính minh bạch và củng cố niềm tin của người dân đối với chính quyền.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học công nghệ càng cần phát huy tinh thần trách nhiệm, không ngừng học hỏi, làm chủ công nghệ mới và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đó cũng là cách thiết thực để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng chính những công việc hằng ngày, âm thầm nhưng có ý nghĩa lâu dài đối với sự phát triển của quê hương, đất nước.

 

 

Lê Quang Hải, Nguyễn Mạnh Hùng